tìm bên trong

Cộng đồng Vietstock

Trao đổi và chia sẻ mọi thứ liên quan đến Tài chính - Chứng khoán

Kiến thức đầu tư

  • Perochan - VNI so với Diễn biến trên TTCK các nước châu Á trong cuộc khủng hoảng kinh tế 1997

      12-09-2008, 14:32

    Có thể nói Việt Nam đang trải qua 1 năm khó khăn với lạm phát dự kiến 30% và nhập siêu đạt mức kỷ lục >20 tỷ USD, đồng VND xáo trộn mạnh, TTCK sụt giảm và giá xăng dầu thế giới tăng cao. Để nói rằng Việt Nam có rơi vào khủng hoảng kinh tế như các nước châu Á 1997 thì còn sớm, vì thường thì sau khủng hoảng mới nhận ra rõ rệt được. Tuy nhiên những khó khăn của Việt Nam hiện nay đều mang dấu ấn và hình dáng của cuộc khủng hoảng 1997 ở châu Á.

    Trong 1 báo cáo hồi đầu năm của nhóm nghiên cứu ĐH Harvard, thì VN có 8/10 đặc điểm giống Thái Lan trong cuộc khủng hoảng Á châu 1997. (mặc dù cố gắng 2 lần nhưng chưa thể đọc hết được cái báo cáo  đó của nhóm Harvard,  vì viết khó hiểu quá, hihi)  Chính vì thế việc nghiên cứu các đặc điểm của TTCK châu Á giai đoạn khủng hoảng 1997 rất có thể sẽ hữu ích trong việc nhìn nhận hướng đi của VNI hiện nay.

    Trong phạm vi bài viết này, chỉ xét đến việc TTCK đã tạo đáy 366 hay chưa? Tiên đoán hay nhận định sớm là 1 điều khó, nhưng nếu xét trên quá khứ TTCK các nước 1997 thì sẽ có nhiều cảm nhận cũng như các kịch bản cho VNI trong thời gian tới.

    Có một đặc điểm khá giống nhau của TTCK các nước gặp khủng hoảng như Thái Lan, Hàn Quốc, Indonesia và Malaysia, đó là khi chỉ số chứng khoán sụt giảm đến khoảng 2/3 so với đỉnh thì bật lên rất mạnh. Có những nước giảm mất  2/3 rồi quay đầu đi lên 1 mạch như Indonesia, Singapore hoặc Hongkong, nhưng cũng có nước giảm 2/3 rồi bật lên 1 cú thật mạnh và sau đó tiếp tục đi xuống như Thái Lan, Hàn Quốc, Malaysia.

    Rất tình cờ, VNI của Việt Nam đạt đỉnh từ 1170 hồi tháng 3 năm 2007 và rớt về 366 vào tháng 6/2008. Tính ra, VNI cũng đã rớt tròn 2/3 và sau đó VNI có cú bật lên. Hiện VNI sắp đạt 500 và được coi là đã bật lên khoảng 40% so với điểm 366.

    Như vậy, VNI 366 đã là đáy của VNI hay chưa?

    Những so sánh dưới đây sẽ để người đọc tự kết luận cho riêng mình. Tuy nhiên dù VNI có tạo đáy hay chưa thì với những so sánh từ các TTCK đi trước, sẽ là cơ hội rất lớn cho những ai nhìn ra được vĩ mô nền kinh tế, đảm bảo chỉ trong vòng 1 năm, sẽ thu lợi từ 80-400% trên TTCK. Tất nhiên để làm được điều đó, có lẽ nên có thêm chút năng khiếu đọc bảng giá CK cũng như các tình huống xử lý và quản lý danh mục đầu tư chứng khoán.

    Đây tạm coi là phần 1, nhận định về TTCK VN trong thời gian tới.

    ------

    Trước khi đưa ra sự so sánh với các nước, cần có 1 cái nhìn sơ qua về đồ thị của VN index. Có 2 phương án: là VNI đạt 366 dạo tháng 6/2008 đã là đáyVNI 366 chưa là đáy. Hai kịch bản theo hướng chính sau đây

    Kịch bản 1


    Kịch bản 2

     

     

    Xem xét VNI với SET của Thailand

     

     Các mốc cần chú ý với TTCK Thái Lan: Sụt giảm 2/3 là ở mốc 470 điểm, và đáy là mốc 204 điểm. VNI 366 sẽ theo hướng nào? Giống SET 470 là bật lên rồi rơi xuống tiếp dưới 470 hay VNI sẽ giống SET 204 là bật lên hẳn?

    TTCK Thái Lan bắt đầu sụt giảm kể từ đầu năm 1994 với đỉnh 1750 điểm sau khi tăng gấp 2 lần trong vòng 6 tháng trước đó. Tuy nhiên các mức trồi sụt trong vòng 2 năm sau đó không đáng kể, và nếu tính đỉnh của TTCK Thái Lan (SET) thì tầm khoảng đầu năm 1996 nên coi là đỉnh, tính theo điểm bắt đầu suy giảm. Lúc này SET là 1430 vào tháng 1/1996.  Khi đó kinh tế Thái vẫn chưa có dấu hiệu bất ổn, mà chỉ đang rơi vào cơn sốt BĐS. Đến đầu năm 97 mới bắt đầu chịu sức ép mất giá đồng bath (Thai Bath – THB), nhưng lúc này SET giảm 50% rồi, xuống gần 600 điểm.

    Đến tháng 5/97, SET rơi xuống 470 điểm, giảm 2/3 so với đỉnh 1420 cách đó 1 năm rưỡi. Thế rồi chỉ trong hơn 1 tháng sau đó, SET từ mốc 470 so với đỉnh đã bật lên tới 680 vào cuối 6/97 và vài ngày sau thì chính phủ Thái giương cờ trắng đầu hàng trên mặt trận tiền tệ. Tính ra, từ mốc giảm còn 1/3 của SET, nó đã bật lên 45% rồi rơi tiếp.

    Từ cú rớt đó, SET còn chịu sự sụt giảm tới hơn 1 năm sau đó khi rơi về đáy 204 vào tháng 9/98. Hành trình đó chính là tâm điểm của khủng hoảng tài chính châu Á mà Thái là nước chịu thiệt hại đầu tiên, nặng nề nhất. Và trên đường rớt, SET còn có 1 cú bật từ điểm 337(1/98) lên 564 (2/98) trong vòng 1 tháng, tức là thêm được tới 67%.

    Tóm lại, phân tích hành trình sụt giảm của TTCK Thailand, có thể chia nó thành 2 phần, từ 1/96 đến 2/97 là sự sựt giảm sau khi xảy ra bong bong nhà đất. Còn từ 2/97 đến 9/98 là đổ đèo theo sự khủng hoảng Á châu, cụ thể ở đây là theo sự trượt giá của đồng Bath và các đồng tiền trong khu vực. Thực ra khủng hoảng châu Á đến năm 1999 mới nhìn thấy lối ra nhưng TTCK đã tạo đáy từ trước đó.

    Hành trình mất giá của đồng THB cũng ảnh hưởng lên TTCK. Suốt từ năm 1996 trở về trước, 1$ luôn ổn định ở mức 23-25 THB. Cuối năm 96, khi SET giảm mạnh, bong bong BĐS nổ ra, các khoản nợ bắt đầu phải trả thì đồng THB chịu sức ép mất giá, đỉnh điểm căng thẳng là tháng 2/97. Lúc này, lần đầu tiên 1$ phá mốc =26THB. Các doanh nghiệp đổ xô đi mua $ phòng thủ để trả nợ. Thái liên tục tung dự trữ trong kho ra và còn cam kết rằng họ đủ $ để bán.

    Đến tháng 5, 1$ đã nhích lên = 27THB. Và tháng 7/97, Bộ trưởng tài chính mới của  Thái lên nắm quyền, đi kiểm tra số ngoại tệ thấy rằng kho của họ chỉ còn đúng 1 tỷ $ và tuyên bố đầu hàng. Thái thả nổi đồng THB.  Ngay lập tức 1$ = 30 THB.  Chưa hết, đồng THB liên tục mất giá và Thái cầu cứu IMF viện trợ. Các hành động của IMF vào tháng 10 vẫn chưa đủ giúp đồng tiền của Thái, và đỉnh điểm của mất giá vào tháng 1/98, khi đó 1$ = 54THB. Có lẽ lúc này các phương thuốc quá liều của IMF đã đủ mệt và lòng tin mới tạm thời trở lại, đồng THB lên giá. Từ tháng 1/98 đến 9/98, đồng THB nhích dần lên, cuối cùng đạt 1$=40THB.

    Tuy nhiên có thể nhìn thấy từ 1/98 đến 9/98, đồng Bath phục hồi trở lại nhưng SET chí có 1 cú hồi 67% rất nhanh rồi rớt thật mạnh. Đó là vì các vấn đề vĩ mô kinh tế, như hàng loạt ngân hàng, cty tài chính phá sản, GDP sụt giảm nghiêm trọng, đã kéo SET xuống còn 204 điểm.

    Như vậy có thể hình dung ra mối liên hệ vào VNI nếu theo kịch bản SET. Sau khi rớt từ 1170 xuống 366, giảm đúng 2/3 thì VNI đã bật lên. Mặc dù VNI đạt đỉnh từ 3/2007, kinh tế VN đang sốt BDS và đầu năm 2008 mới rơi vào bất ổn. Tới đây, VN còn phức tạp hơn khi các chính sách vĩ mô bắt đầu ngấm thuốc và sự suy trầm của kinh tế toàn cầu.

    VNI 366 sẽ giống đoạn SET 204 hay là SET 470 như đồ thị? Nếu các tín hiệu kinh tế như ngân hàng, tài chính cũng như sản xuất trong năm 2009 ấm trở lại thì có thể coi VNI 366 đã là đáy, giống SET 204. Còn nếu GDP bắt đầu sụt giảm, một vài ngân hàng, cty tài chính phá sản thì khả năng VNI 366 mới chỉ giống SET 470, tức là bật lên rồi còn giảm tiếp.

    VN cũng có giai đoạn sốt BĐS nhưng chưa có giai đoạn 2 là vỡ trận thị trường tiền tệ, ngân hàng. Vậy áp đặt VNI 366 theo hướng giống SET 470 vẫn còn là 1 điều hơi vội vàng. Do đó cần xem xét thêm VNI với các nước khác.

     So với Hàn Quốc


    Các mốc của TTCK Hàn Quốc, đỉnh 1130, giảm 2/3 mà điểm 343 và đáy là 277. VNI 366 sẽ giống KOSPI 343 hay là KOSPI 277?

     Một trong những điểm khá giống của TTCK Việt Nam hiện nay với Hàn Quốc giai đoạn khủng hoảng 97-98 là điểm VNI đạt đỉnh 1170 cũng na ná với điểm của Seoul Composite (KOSPI) đạt đỉnh 1130.

    Cần lồng TTCK Hàn Quốc vào bối cảnh kinh tế khi đó.

    Cuối tháng 11/97, Hàn Quốc ra quyết định cầu viện IMF. KOSPI khoảng gần 500 điểm. Đầu tháng 12/97, IMF công bố các quyết định trợ giúp cho Hàn Quốc thì trong suốt tháng đó, KOSPI giảm về mức 343 hôm 26/12/97. Có thể nói thời điểm đó tin xấu liên tục xuất hiện ở Hàn Quốc. Đồng Won mất giá đỉnh điểm từ 1150 (11/97) xuống vèo 1700 (12/97), và nếu so với 1 năm trước đó (1$=800 SKW) thì đồng Won đã mất giá tới hơn 100%. Lãi suất được đẩy lên tới 25%. Kho dự trữ ngoại hối của Hàn Quốc bay từ 35 tỷ US$ tháng 12/1996 xuống còn 20 tỷ US$ tháng 12/1997 . Đó cũng là thời điểm thấp nhất của kho dự trữ ngoại hối Hàn Quốc kể từ năm 1994.

    Các biện pháp của IMF cũng làm KOSPI rebound lên được 72%, tới mốc 591 vào tháng 3/98.  Lúc này dự trữ ngoại tệ của Hàn đã quay trở lại 30 tỷ $ nhanh chóng, cũng như tỷ giá đã giảm xuống 1$ =1350 SKW.

    Sự hồ hởi của TTCK khi có cứu viện IMF cũng chỉ được 3 tháng. Khi đơn thuốc IMF yêu cầu đóng cửa 14/30 ngân hàng đầu tư của Hàn Quốc bắt đầu ngấm thuốc, dòng tiền đột ngột chuyển hướng đã khiến TTCK nước này quay đầu 1 lần nữa, từ 591 xuống 277 vào tháng 6/98. Đó là điểm đáy của TTCK Hàn Quốc kể từ 20 năm nay. Và lúc này, nhờ sự phát triển mạnh mẽ của Mỹ dưới thời Clinton, nền kinh tế toàn cầu đã ăn theo và Hàn Quốc là 1 nước cũng vậy, đã nhanh chóng vượt qua, khi đầu năm 1999, bản thân IMF đã có ngay đánh giá nói rằng khả năng Hàn Quốc qua khỏi khó khăn, GDP tăng trưởng mạnh trở lại.

    Lý giải nhỏ cho việc KOSPI hết giảm điểm khi chưa có dấu hiệu thật tốt ở kinh tế, có thể xem xét ở chỗ lòng tin đã trở lại Hàn Quốc khi dự trữ ngoại tệ của Hàn Quốc tăng lên 40 tỷ vào tháng 6/9850 tỷ $ vào tháng 12/98. Đồng thời đồng SKW cũng giảm ổn định về 1200 trong 6 tháng cuối năm 1998. GDP bắt đầu tăng trở lại từ quý 3, và lãi suất đã đều đều giảm xuống, từ đỉnh điểm 25%  hồi tháng 1/98 xuông còn 9% vào tháng 8/98.

    Nhờ chính sách xuất khẩu vào Mỹ mà Hàn Quốc nhanh chóng qua khỏi khó khăn, đồng thời khiến chỉ số KOSPI tăng tới 400% trong vòng 1 năm sau đó, kể từ khi tạo đáy.

    Vậy liên hệ với VNI, cũng có thể thấy VNI tạo đỉnh 1170 tháng 3/07 và trải qua cơn sốt BĐS, rồi rơi vào những khó khăn liên miên như nhập siêu lớn, TTCK sụt giảm, lãi suất tăng mạnh, đồng tiền rớt giá mạnh… Và điều đó đã tạo nên một cái đáy 366 cho VNI vào tháng 6/2008. Tuy nhiên các nỗ lực như ổn định đồng tiền, giảm tốc độ nhập siêu, giảm tốc độ lạm phát đã khiến VNI tăng mạnh.

    Do đó nếu học theo Hàn Quốc, với tỷ lệ giảm 2/3 ở mốc KOSPI 343 tương đường với VNI 366 thì VNI sẽ tăng lên khoảng 60-70% từ đáy, tức là khoảng 550-600 rồi cũng lại rớt tiếp xuống dưới 366.

    Tại sao lại chọn VNI 366 tương ứng với thời điểm KOSPI 343 (rớt 2/3) mà ko phải là KOSPI 277 (đáy)?

    Có lẽ do đặc điểm các thời điểm kinh tế như phân tích ở trên. Và rất có khả năng VNI sẽ bật cao lên như vậy rồi rớt tiếp xuống dưới 366. Lý do thì ở VN, sau khi các nỗi lo về lạm phát qua đi, lãi suất NH tạm hạ nhiệt 1 chút khiến VNI đi lên, nhưng khi các vấn đề vĩ mô bắt đầu ngấm thuốc của chính sách tăng lãi suất từ 9 tháng trước và bài toán tăng trưởng theo toàn cầu khó khăn. Hệ thống ngân hàng còn nhiều bất ổn. Lạm phát sẽ qua đi, nhưng tốc độ sản xuất chắc chắn chậm lại. Đồng thời lý do nguy hiểm nhất là kinh tế toàn cầu vẫn tiếp tục suy yếu do giá hàng hóa cao và Mỹ vẫn chưa qua khủng hoảng. Tức là doanh nghiệp Việt Nam, giả sử hiện nay có tỷ số P/E là 10 khá hợp lý, nhưng tốc độ tăng trưởng âm, thì P/E tự nhiên sẽ tăng >10. Và để tỷ số này hợp lý thì giá cổ phiếu phải giảm xuống, và VNI sẽ giảm.

    Nếu theo kịch bản của KOSPI thì VNI sẽ tăng lên ~ 550-600 vào khoảng tháng 10-11/2008 rồi rớt tiếp đến giữa năm sau đồng hành cùng sự đi xuống của nền kinh tế, khi đó mới thực sự tạo đáy.



     

     

  • Tổng hợp - Luận bàn về việc tăng LSCB

     

    16:54 20/05/2008

    Perochan

    Em thì thấy nâng lại suật cợ bạn lên là điều tốt đấy.

    1. Thể hiện đúng vai trò điều hành tiền tệ của SBV.

    2. Thể hiện được hành động chấp nhận giảm tăng trưởng để ổn định và chống lạm phát.

    Thực ra chuyện lãi suất cho vay lên 18% hay hơn thì rồi vẫn sẽ có doanh nghiệp đi vay thôi. Những anh nào lãi lớn, tăng trưởng mạnh 20-30% thì phải chịu giảm lãi đi, còn hơn là ko có vốn. Đại khái cái này nó cũng hạn chế phát triển doanh nghiệp -----> giảm tăng trưởng.

    Bù lại thì được yếu tố chống lạm phát, tức là anh nào thực sự hiệu quả thì đi vay vốn mà kinh doanh, ko hiệu quả, ko có tài thì ngồi im, gửi tiền vô ngân hàng cho anh khác làm ăn. Tức là nâng cao tính hiệu quả, cạnh tranh của nền kinh tế, giảm được lạm phát.

    Vậy đó là điều tốt thôi. Big Smile

    Mà cái này hay hơn việc bỏ trần lãi suất, vì ko tăgn LSCB thì tiền chỉ chạy từ anh này qua anh khác thôi. Còn tăng lscb này thì lại hút thêm 1 lượng tiền nhàn rỗi nữa vào hệ thống ngân hàng, nâgn tính thanh khoản. Vừa giảm áp lựcđầu cơ USD lẫn các loại sản phẩm khác. Nhưng mà thế này thì CK còn mệt lắm, tiền chạy gửi ngân hàng hết, khó trở lại CK lắm.

    Bây giờ chờ các bác ấy giải quyết bài toán BDS như nào mà thôi.  

    Thực ra em chưa lo chuyện lạm phát bằng chuyện kinh doanh ko hiệu quả, lãng phí.

    Đây là vấn đề dài, nhưng nó là điều dễ hiểu khi anh có 1 luồng tiền đổ vào quá dễ dãi. FDI, FII năm ngoái là nguyên nhân. Trước đó là kiều hối (thử hỏi các gia đình kiều  hối bao nhiêu % gia đình làm ăn hiệu quả, toàn đi buôn BDS với mua sắm thôi). Cũng giống như năm ngoái ai thắng CK thì ăn tiêu bét nhè ấy.

     Thoai, sơ qua vaidongf loăng quăng vậy

    --------------------- 

    Alex2000

    Cụ Pero, giá mà lãi suất cho vay được cao hơn 18% để bank có thể cho vay mà không phải hồi hộp xà lách vì sợ kiểm dịch sờ bờ vờ thì còn gì để nói. Vì sợ kiểm dịch nên không phải bank nào cũng xà lách thành ra bầu sữa đưa đến miệng doanh nghiệp nhưng bị bịt mất cái núm roài còn đâu. 

    LSCB thì đã tăng lên rồi đó nhưng thử hỏi cụ là nguồn vốn đã chảy vào bank chưa hay dòng tiền hôi nách nó chảy vào chỗ nào rồi Big Smile

    Lâu lắm rồi mới thấy cụ Pero nói hok có lý Big Smile 

    --------------- 

    Collin Raya

    Cái được dễ thấy nhất của cú "đảo cánh điều hành" lần này là tạm thời cứu vãn được tính thanh khoản của nhiều ngân hàng. Nếu để thêm một thời gian nữa, e rằng quá muộn.

    Nhưng bài toán BDS thì vẫn chưa có lời giải. Và đó mới là bài toán đau đầu. So với bài toán ấy, bài toán điều hành lãi suất chỉ là chuyện "nhỏ như con thỏ".

    Các cụ khỏi lo cho các doanh nghiệp. Giá nguyên liệu tăng cao, giá đầu ra bị kìm nén, lãi suất ngân hàng 12%-15%/năm còn chả dám vay nữa là 18%. Cũng giống ngân hàng, anh nào càng nâng lãi suất huy động lên cao càng chứng tỏ anh ấy đang "còi to - kẹp nặng", doanh nghiệp nào chấp nhận vay 18%/năm hoặc hơn thì chỉ chứng tỏ doanh nghiệp đó đang rất có vấn đề mà thôi.

    Em mà là ngân hàng, không bao giờ em dám cho doanh nghiệp nào vay ở mức 18% cả ! Chỉ các vị tiến sĩ chưa bao giờ tiếp cận thực tế sản xuất ở Việt Nam mới có đủ lãng mạn để tin rằng DN sẽ trả được nợ, cả gốc lẫn lãi, với lãi suất đó mà thôi.

    Sản xuất thì như thế, huy động thì kiểu này, chả mấy chốc mà thừa thanh khoản. Vòng sản xuất bao giờ cũng chậm một nhịp. DN thu hẹp sản xuất thì có mà cho vay vào mắt.

    Em thành thực khuyên các cụ tìm thằng ngân hàng nào ổn ổn làm một quyển tiết kiệm đi. Chỉ tháng nữa khéo không còn lãi suất như hôm nay đâu .. he he ...

    --------------------- 

    Perochan

    Em thấy các bác mang tính lý thuyết nhiều rồi hay sao ấy. Em biết vẫn nhiều doanh nghiệp đang mở rộng kinh doanh của mình đấy. Đã là doanh nghiệp và muốn phát triển thì bất cứ thời điểm nào cũng cần vốn. Vấn đề sử dụng đồng vốn đó ra sao mà thôi. Khi lãi suất thấp, dễ vay thì không cần tính toán nhiều. Nhưng khi lãi cao, thì phải chi li từng tí 1.

    Và cái đó làm nên hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp và rộng ra là hiệu quả kinh tế cho đất nước. 

    Thôi lấy thằng bị ảnh hưởng nhiều nhất khi giá xăng dầu lên và lãi suất tăng, là bọn vận tải. Ở đây cụ thể là thằng Mai Linh taxi.

    Dầu tăng từ 2 năm nay, nhưng thằng ML vẫn liên tục nhập xe về, mỗi năm hơn 1000 cái innova trên cả nước (chưa tính bọn Express 16 chỗ chạy liên tỉnh). Toàn bộ là nó đi vay trả góp. Tới đây nó lại nhập về hơn 500 cái nữa. Vậy thì có phải là nó vẫn tìm cách phát triển trong điều kiện khó khăn hiện nay không? Ngành của nó là ngành ảnh hưởng nhất khi xăng dầu lên giá. Thế mà nó vẫn tiếp tục tăng trưởng đầu xe.

    Vậy thì nó sinh lời như nào? Tất nhiên vẫn là mảng dịch vụ vận tải. Nhưng khi xăng dầu như này, nó phải tiết kiệm chi phí chạy không tải. Bằng cách nào? Vừa rồi bọn ML taxi nó hệ thống lại toàn bộ hơn 8000 xe của nó ở SG, từ Gia Định, M, Deluxe, VNN, ... tất cả chỉ chung 1 số điện thoại và mỗi khu vực chỉ phủ sóng bán kính nhất định. Tức là khách ở khu vực A thì chỉ những thằng taxi nào của ML đang chạy trong khu vực A bắt được sóng  tổng đài và đi đón khách gần đó, ai chạy ngoài khu vực đó sẽ ko có sóng, ko phải chạy hộc tốc đường xa đi đón. Bọn ở ngoài khu vực sẽ ko nhận đc tín hiệu.

    Ko như trước đây, khách quận 3 gọi thằng Gia Định thì 1 thằng taxi Gia Định gần nhất là khu vực quận 5 phải phi hộc tốc về quận quận 3 đón khách. Trong khi có thằng VNN ở quận 3 cạnh đó thì ko điều xe được, vì Gia Định 1 số riêng, VNN 1 số riêng, khách gọi Gia Định thì phải điều xe Gia Định, ko thể điều xe của VNN,  mặc dù cả 2 cùng thuộc ML taxi. Tức là chi phí chạy không tải cao hơn.

    Giờ thì nó khác, tiết kiệm tối đa chi phí. 

    Ví dụ cơ bản trên đây để các bác thấy trong điều kiện khó khăn, các doanh nghiệp sẽ nghĩ cách sinh lợi bằng tiết kiệm chi phí.

    Hay như xăng dầu đắt thì chi phí vận tải đường bộ cao. Thế thì sẽ thay bằng vận tải sông, biển ----> phát triển cảng ----> hạ tầng cơ sở cho cảng v.v. Tức là trong khó khăn của thằng này thì sẽ tòi ra cái thuận lợi hơn cho thằng khác v.v. Hoặc đầu tư vào được cao tốc,giảm giá thành vận chuyển. Vừa rồi đường cao tốc HN - HP là ví dụ sinh động đó, vì nó dự kiến tháng 10-2008 khởi công,nhưng giờ sớm ngày nào có lợi ngày đó.

    Hay như điện, đầu vào bị tăng giá (than, khí) đầu ra bị kiềm giá  nhưng vẫn khối doanh nghiệp nhăm nhe ngành này. Trước có REE, Hiệp Phước.., giờ có ITA vẫn máu me với dự án Trung Lương... tức là vẫn có cửa ra.

    Lúc này chỉ khó mấy anh đầu tư tài chính, ko biết huy động vốn và giải ngân như nào mà thôi. 

     

    @Alex: Việc NH ko cho vay với LS dưới 18% thì bình thường. Nó huy động đc tiền thì sẽ phải đem cho vay. Nhưng giờ đây, khoản tín dụng cấp cho khách của nó sẽ ngặt nghèo hơn nhiều. Tức là doanh nghiệp cần trình bày cụ thể kế hoạch của mình v.v. NH đảm bảo an toàn thì sẽ cho vay. Đáp lại thì doanh nghiệp muốn làm ăn, ko thể theo kiểu bát nháo trước đây, mà phải tính toán cụ thể mới vác hồ sơ đi vay. 2 cái đó gặp nhau ----------> tăng hiệu suất sử dụng đồng vốn.

    Còn trên thế giới, nhiều nước lãi suất lên tới 15% lắm. Chẳng qua VN mình chưa quen, nên choáng thế thôi.

    Có điều tăng lãi suất tức là giảm tốc độ tăng trưởng, cái này ai cũng thấy rồi. Tức là chỉ 1 số daonh nghiệp có tinh toán cụ thể mới dám đầu tư.

    Và đó là điều đáng hoan nghênh. 

    Tóm lại việc tăng LSCB này là rất tốt, giải quyết đc nhiều vấn đề, lạm phát, đầu cơ $, tăng hệ số sử dụng vốn. Đánh đổi tăng trưởng kinh tế thì phải thế.

    Còn nếu bàn lùi thì ngoài việc tăng LSCB này, nói thực ra là em chưa thấy biện pháp nào hay hơn.

    LÃI SUẤT là công cụ cơ bản và kinh điển nhất trên thị trường tiền tệ. Ko sử dụng nó thì chưa thể điều hành thị trường tiền tệ được.

    Ngoài ra thì còn có nghiệp vụ bơm/hút tiền lưu thông. Cái này cần có trình và kinh nghiệm, bên ngoài đa số ko để ý khoản này. Đơn giản như 5 năm qua, GDP VN tăng ầm ầm, nếu ông Thúy ko bơm tiền liên tục thì VN cũng khô máu rồi, lấy đâu ra vốn.

    Còn bây giờ đang loạn như này, 1 phần là do nghiệp vụ bơm/hút tiền ko hợp lý đóa. 

    Để giải quyết BDS thì cứ chờ các bác ấy xử lý thôi. Cái may của VN là vốn FDI vào BDS vẫn rất lớn, hơn 5 tỷ $ từ đầu năm, tức là nó có triển vọng thực sự. Xử lý quả bong bóng này thì có nghiệp vụ bơm hút tiền hợp lý là sẽ cho nó hạ cánh an toàn được.

    Tóm lại là triển vọng thì chưa thấy,nhưng khó khăn thì đã phần nào qua đi.

    Cái khó nhất sắp tới, theo em, là giá dầu, nếu nó vẫn cao thì căng, chứ ko phải là BDS nữa. 

     -----------

    ukbox:

    Lâu rồi mới có dịp lạm bàn với các bác. Đúng là bác Pero, lúc nào cũng phong độ. Việc lãi suất tăng làm tăng hiệu quả sử dụng vốn mà bác chỉ ra thật chí lí, nhưng đấy mới chỉ tác động đến các DN thuộc khối tư nhân, còn khu vực đầu tư khủng nhất là NN thì còn phải chờ dài. Vì các dự án của NN thường cố lờ đi phần tài chính, chỉ tập trung vào mảng xã hội - chỗ mà không có tiêu chí khách quan nào để đánh giá.

    Đợt vừa các kụ ld bị chê nhiều, nhưng khách quan mà nói thì ngoài do số "đen" không gặp thời, toàn vớ phải thiên tai dịch bệnh thì còn nguyên nhân từ thời gian trước để lại. Cái này vẫn thường gặp ở mấy nước đang phát triển có tí chút tài nguyên trong khi chính phủ lại không đủ độ rắn, khi có tiền thì chi tiêu, đầu tư vung vít loạn lên, đến lúc khó khăn thì không có sức chống đỡ. Kể cả chính sách tỉ giá học của bác Tung Của cũng không đủ mạnh. Tung của họ bị sức ép phải tăng giá nên neo được vào USD đã là giỏi, còn Vn lẽ ra phải phá giá từng bước (crawling peg) thì lại chỉ để xoay quanh 1%. Biểu hiện rõ nhất là BDS và dịch vụ, tài chính bùng nổ, lạm phát tăng, trong khi các ngành SX, XK càng ngày càng kém cạnh tranh. Chừng nào chính phủ kiểm soát lại được mảng chi tiêu và đầu tư nhà nước thì lạm phát và tăng trưởng mới quay về ổn định được.   

     --------

     Perochan

    Đúng rồi bác, em mới chỉ đề cập đến khu vực kinht ế tư nhân. Còn quốc doanh thì vấn đề lớn nhất là lãng phí, sử dụng vốn ko hiệu quả. Họ chỉ cần tiết kiệm mấy việc đó thì cũng tương tự như có 1 luồng vốn mới đổ vào ấy chứ. Thực ra ở đây bác nào tham gia vài cái dự án tiền trăm triệu $ trở lên sẽ thấy lãng phí kinh hoàng như nào. Và em thấy những cái khó khăn này cũng là 1 cái may, để các bác LD nhìn lại chính sách của mình.  Nhiều khi chỉ cần tiết kiệm hoặc sử dụng đúng địa chỉ đồng vốn thì tiết kiệm rất nhiều khoản khác. Em cũng đồng ý là phải chờ những chính sách, hành động cứng rắn hơn, kiểm soát được các mảng đó thì tình hình kinh tế mới khả quan. Và cái đó thường là có độ trễ vài tháng vài năm.

    Nên em mói nói hiện giờ thì khó khăn đã bớt đi nhưng triển vọng chưa thấy. Triẻn vọng chính là chờ vào các hành động của chính phủ ấy.

    --------------

    alex2000:

    Bác Pero, có một điểm em không đồng ý với bác. Ngân hàng cho vay 18% nhưng lại rất hạn chế, chủ yếu với các dự án có hiệu quả cực cao, tức là lợi nhuận năm tối thiểu 20-25%. Đồng ý là hiệu quả sử dụng vốn được nâng lên nhưng đa số các dự án có hiệu quả thấp hơn sẽ tìm nguồn tài trợ ở đâu đây? Hậu quả gì sẽ xảy ra khi không có nguồn tài trợ để tiếp tục kinh doanh? Cách duy nhất để thoát khỏi tình trạng này là sử dụng bơm/hút để đưa lãi suất về mức như ca sỹ đã nói. 

    Úi, mới đọc báo tuổi trẻ hôm nay có bài" Muốn vay phải trả thêm phí!", vậy là mấy cụ bank cũng bắt đầu xài xà lách rồi kìa, đúng như dự kiến ca sỹ nhể Big Smile

    ---------

    Perochan

    Thực ra NH đang thiếu thanh khoản nên khó khăn vậy, nhưng khi người ta có vốn rồi thì sẽ cho vay mà ko phải xà lách đâu. Độ trễ trong chính sách tài chính ở VN thường là 6 tháng bác ạ (1 bác trong UB chính sách tiền tệ nói thế, ko phải em Stick out tongue). Khoảng vài tháng nữa, bác có kế hoạch ngon ngon, cứ mang ra NH, em nghĩ sẽ vay được.

    Còn việc tăng lãi suất thì chính là việc hạn chế nhiều doanh nghiệp tiếp cận vốn, tức là giảm tăng trưởng quốc gia là điều hiển nhiên mà bác. Lý thuýet  thế rồi. Vấn đề là không phải 100% doanh nghiệp ko được vay, mà chỉ 1 ít đủ khả năng mới được vay.

    Mấy bác không đủ khả năng sinh lời cao, ko vay được vốn thì cũng ko nên buồn, vì vay xong chắc gì anh đã làm ăn tốt hơn so với gửi tiền vào ngân hàng ăn 15%.

    Còn nếu đưa lãi suất về mức cũ, tức là giả sử ko tăng lãi suất, em nói thật có 1 nguy hiểm cực lớn lúc đó. Là người ta đầu cơ vào $, đến lúc nào đó dự trữ ko đủ thì vỡ trận hoàn toàn. Mặc dù cái này chỉ do yếu tố tâm lý thôi.  Bác cứ thử đặt mình vào tuần trước, nếu ko tăng lãi suất mạnh như vừa rồi thì bác có rục rịch đi mua $ tích trữ ko?.  Mà khi nó thành phong trào thì kinh hoàng lắm, kho dự trữ nào cho đủ. Hihihi.

    Nên em thấy tăng lãi suất vừa rồi là hành động khá ổn của NHTW đấy. Big Smile

     

     

     

     

  • Perochan - Nhận định thị trường Vàng!

    16:21 - 20/05/2008 

    Em có cái này hơi tò mò chút, là cá nhân em thấy bác Tarzan nhận định rất chuẩn từ chu kỳ xuống từ 920 về 850 rồi nhận định nó sẽ lên 920. Sau đợt cô thương, bác ấy có đánh lên 1-2 ngày gì đóYes, nhưng hình như thấy phe mấy bác Nhà Quê sọc kinh quá nên thay đổi quan điểm, quay ra sọc thì phải. Lúc đó em thấy phe sọc sai nghiêm trọng rồi. Vì đơn giản ko nên sọc ở $860. Nếu khẳng định Gold tèo thì cứ chờ nó thủng 860 thì chậm 1 ngày thôi nhưng short ko muộn vì khi đó nó còn thủng bét nhè nữa cơ. Cũng như bây giờ đừng long ở 920 vội, chờ nó đục cái đó rõ ràng thì hãy oánh lên.

    Vì đây thực sự là kinh nghiệm cho những người đánh qua đêm. Có gì mọi người nhờ bác Tarzan bật mí sao lại thay đổi quan điểm như thế để lần sau tránh sai lầm này (nhưng sẽ có sai lầm khác Wink) Cái này em nói nghiêm túc vì qua đêm nhìn thấy hoa hậu @#$@#$ mà ko làm gì được thì mình cũng phải có lý do tìm hiểu sao cô không thương.

     

    Nhận định dài hạn thì có mấy yếu tố sau:

    1. Vàng lên vào nửa cuối năm nay vì chỉ số commodities index quá thấp so với giá dầu. Mà dầu thì cứ ngự trị khoảng 140$ trở lên thì dần dần nó sẽ kéo vàng và các commodities khác lên. Lúc này dầu đang đột biến và người ta vẫn cho là dầu đang bị đầu cơ, nên chờ nó hạ. Kiểu chính phủ VN chờ nó hạn về 100$ ấy. Nhưng dầu nó đứng ở mức này khoảng 2 tháng thì người ta tự chấp nhận mặt bằng mới của giá dầu, tức là mặt bằng mới của giá cả thế giới. Và lúc đó lại thấy vàng quá rẻ. (giống VNI khi 700 thì ai cũng kỳ vọng nó trở lại 1100 vào cuối năm, nhưng khi VNI 500 mấy tháng trời thì ai cũng chỉ hy vọng nó lên 600 vào cuối năm là may lắm rồi. Suy nghĩ của con người luôn bị thời gian và ngoại cảnh tác động. Dầu cứ ngự trị giá cao thì vàng cũng sẽ như vậy.)

    2. Vàng xuống vào nửa cuối năm nay là do FED nâng lãi suất. (nhưng cũng phải đủ mức độ nào đó cao hơn lợi nhuận của vàng thì dòng tiền mới chạy khỏi commodities được). The FED nâng lãi suất là do lạm phát. Mà lạm phát này do giá dầu tăng. Tuy nhiên khi nào The FED tăng lãi suất?

    Kinh nghiệm 2003 cho thấy sau khi 16 lần hạ lãi suất xuống còn 1% thì mức đó nằm im lìm suốt 1 năm trời, đến giữa năm 2004 mới khởi động hành trình 13 lần nâng lãi suất từ 1% lên 6%.

    Tức là nếu FED hạ lãi suất xuống 2% hiện nay và coi 2% là đáy thì chắc cũng khoảng cuối năm nay mới tăng lãi suất. Tuy nhiên 2% đã là đáy chưa thì chưa ai biết?

    DJIA như em đã nói là nó sideways 1 vài tháng. Currency cũng vậy thôi, sau khi $$$ mất giá như *** xuống 1.60 thì nó cũng phải tạm ngừng đã. Hiện giờ ~1.56. Nó là 1 cú pull back hay correction thì chưa ai biết. Nhưng có điều sau cơn *** 4 tháng vừa qua thì nó cũng phải tạm nghỉ đã. Vì đủ mọi nỗ lực từ Paulson lẫn Bernanke mà ko kìm cương được thì kinh tế toàn cầu tan hoang hoàn toàn. Sau vụ này, khối trader thành tỷ phú $$$ trong vài tháng. Thử nghiệm Forbes 400 tới đây sẽ biết ngay, em đoán top 30 của Mỹ sẽ có 1/2 là trader mới toanh và cũng chừng đó trader trong forbes400 năm nay ra đi. (Dầu chỉ tăng từ 70-100$ mà năm ngoái xuất hiện tỷ phú 33 tuổi, oil trader, vậy mà hiện giờ dầu còn lên cao hơn). Bên currency đã tạm ngừng, bên stock cũng vậy. DJIA loanh quanh test đi test lại mốc 13000.

    Kinh nghiệm các lần khủng hoảng trước ở Mỹ, lần nào DJIA cũng bay ít nhất 20% điểm số. Gần nhất là dotcom 2000, Nasdaq bay 40%. Vậy mà lần này DJIA mới mất 1000/14000, tức là khoảng 7%. Nếu chỉ có vậy thì chưa gọi là crisis hay recession được. Nó còn loanh quanh đây rồi tính tiếp, khi có các báo cáo quý 2 ra lò.

    Nhưng chưa cần DJIA đi đâu về đâu, mà có 1 chỉ số khác là DJTA (DJ transportation - DJ vận tải) hiện đang lên cao nhất. Trong lịch sử thường thì khi thằng DJTA này lên cao thì thằng DJIA sẽ xuống, tức là 2 tháng tới đây khả năng DJIA khó trụ ở ngưỡng 13000. Lúc đó currency sẽ lại chuyển động mạnh. 

    Vàng dầu cũng sẽ chuyển động mạnh. Em cho rằng tháng 8 này vàng sẽ trở lại mốc 1000.

    Hiện nay chắc vàng cứ loanh quanh 860-920 và nhúc nhích dần lên sau mỗi chu kỳ sóng.

     

    Hehe, vài dòng nhận định chơi. Suy luận và nhận định cụ thể thì còn đủ loại.

    Đấy, các bác qua đêm cứ lấy mấy tiên đề này mà phân tích lên hay xuống rồi qua đêm. Luận kiểu gì cũng đúng hà, kekeke.

    Big Smile

     

  • Vũ Thành Tự Anh - Việt Nam chống nguy cơ bất ổn kinh tế

    Tuần Việt Nam gửi tới bạn đọc phần lược dịch bài viết trên Tạp chí kinh tế Viễn Đông số tháng 5 của Jonathan Pincus, chuyên gia kinh tế trưởng Liên Hiệp quốc và Vũ Thành Tự Anh, chuyên gia kinh tế chương trình Việt Nam của Đại học Havard.

    Những vết rạn khá nghiêm trọng bắt đầu xuất hiện trong hệ thống tài chính và kinh tế của VN những tháng gần đây, đe dọa khả năng tăng trưởng. Liệu Chính phủ có những bước đi đúng và thành công để lật ngược chiều đi xuống của nền kinh tế?

    Sự tuột dốc bất ngờ của nền kinh tế VN gây lo ngại về sự ổn định của hệ thống tài chính, nhất là khi tình hình xấu thêm. Tin tốt lành là các yếu tố nền tảng của kinh tế vĩ mô vẫn còn vững chắc. VN không nợ quá nhiều, tăng trưởng xuất khẩu mạnh và Ngân hàng nhà nước đã tăng được dự trữ ngoại tệ đáng kể trong năm qua. VN cũng hội nhập ít hơn so với Thái Lan và Indonesia nên không chịu sức ép lớn từ khủng hoảng cầm cố nhà đất Mỹ.

    Chính phủ có thể hồi phục sự ổn định tương đối nhanh chóng bằng kiểm soát chi tiêu công và tiền vay của doanh nghiệp nhà nước. Tin xấu là việc này, dù đơn giản, nhưng rất khó để thực hiện thành công do các rào cản trong cơ quan nhà nước.

    Không thiếu người ở VN hiểu được nguyên nhân gây bất ổn kinh tế hiện nay và các bước cần thiết để giảm lạm phát, hồi phục ổn định thị trường. Các vấn đề VN đang gặp phải không quá phức tạp hoặc không giải quyết được. Nhưng các cơ quan hoạch định chính sách lại phân quyền quá tản mạn, nên rất khó để thực hiện được giải pháp đồng bộ.

    Chính sách tiền tệ là nhiệm vụ của Ngân hàng Nhà nước, nhưng Bộ Tài chính lại kiểm soát lạm phát. Chính sách tiền tệ cũng do Uỷ ban Tài chính và Chính sách Tiền tệ Quốc gia giám sát, gồm các quan chức chuyên môn và đại diện các cơ quan chính phủ khác. Bộ Tài chính ra chính sách thuế và chi tiêu ngân sách, nhưng đầu tư lại do Bộ kế hoạch và đầu tư thực hiện. Trong khi đó, các tập đoàn kinh tế lại báo cáo trực tiếp với Thủ tướng, không qua các bộ.

    Cần có những cải cách cơ bản để đơn giản hoá bộ máy hoạch định chính sách.

    Khép các tập đoàn kinh tế vào kỷ luật

    Vào đầu những năm 90, lo lắng vì hoạt động kém hiệu quả của các công ty nhà nước khiến chính phủ quyết định thành lập các tổng công ty và tập đoàn kinh tế, theo hình mẫu keiretsu của Nhật và chaebol của Hàn Quốc. Ý định ban đầu là quy mô lớn sẽ giúp các công ty cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

    Nhưng thay vào đó, các công ty này lại tập trung vào xây dựng quyền lực ở thị trường nội địa trong các lĩnh vực nhiều lợi nhuận như bất động sản, dịch vụ tài chính, viễn thông và du lịch.

    Một số ít công ty xuất khẩu lại sử dụng quan hệ để được chính phủ bảo lãnh các khoản vay, dùng để mở rộng vào những lĩnh vực ngoài ngành kinh doanh chính. Vinashin nhận tiền từ trái phiếu Chính phủ VN phát hành lần đầu tiên năm 2006 và nhận 1 tỉ đô la tiền vay từ Ngân hàng Thuỵ Sỹ. Gần đây Vinashin vay 2 tỉ đô la trái phiếu từ Ngân hàng Đức trong dịp Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm chính thức Đức. Vinatext cũng vay 500 triệu đô la trong dịp này.

    Chính phủ có nhiều dấu hiệu mất kiên nhẫn với các tập đoàn. Trong một cuộc gặp gần đây với lãnh đạo các tập đoàn để bàn về chống lạm phát, Thủ tướng nói mặc dù các tập đoàn kinh tế chiếm 60% nợ ở các ngân hàng thương mại và 70% vốn vay nước ngoài, họ chỉ tạo ra 40% tổng sản phẩm quốc nội GDP.

    Vào tháng 4, Thủ tướng yêu cầu các tổng công ty và tập đoàn kinh tế phải đầu tư ít nhất 70% vốn vào ngành kinh doanh chính. Nhưng phản ứng của các tập đoàn kinh tế cho thấy đưa họ vào vòng kỷ luật không dễ.

    Chủ tịch PetroViệt nam Đinh La Thăng cho rằng đây là biện pháp sốc và nói,  “Nếu các tập đoàn, DNNN kinh doanh các lĩnh vực ngoài ngành có chiếm đến 40% hay 50% nhưng lợi nhuận họ thu được tốt thì không thể bắt họ rút về, có thể gây đổ vỡ doanh nghiệp”.

    Chia sẻ lợi ích từ tăng trưởng

    Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế khen ngợi nhiều về thành tích giảm nghèo, giáo dục cơ sở và cải thiện những chỉ số cơ bản như tỉ lệ chết ở trẻ sơ sinh và tiếp cận nguồn nước sạch. Nhưng VN phụ thuộc nhiều vào tiền ngân sách cho y tế và giáo dục. Chi tiêu công cho y tế ở hàng thấp thứ hai trong khu vực, sau Indonesia.

    Các quỹ tiền công dành cho người nghèo thường không đến được tay người cần. Theo một điều tra mới đây của UNDP, 45% tiền chi trả cho y tế thuộc về 1/5 dân số là những người giàu nhất. Phần chi trả từ nhóm người nghèo nhất chỉ chiếm 7%. Chênh lệch này trong giáo dục là 35 % và 15%. 

    Chất lượng giáo dục và y tế là điều đáng lo ngại. Intel đã đưa ra một cú đấm khi tuyên bố rằng sau khi kiểm tra 2000 sinh viên từ 5 trường đại học công nghệ hàng đầu, chỉ có 40 sinh viên đạt tiêu chuẩn tối thiểu của họ. Intel nói đây là nước đạt chuẩn thấp nhất trong số những nước mà hãng này đã đến.

    Không khó hiểu vì sao các gia đình VN phải tiêu tốn tới 1 tỉ đô la một năm cho con cái du học. Hệ thống trong nước không đáp ứng được như cầu về chất lượng, thậm chí với cả những người đủ tiền để trả.

    Cải cách kinh tế ở VN đã vượt quá mong đợi của nhiều nhà quan sát. Tăng trưởng xuất khẩu lên tới 20% mỗi năm, tạo việc làm ổn định cho hàng triệu người ở nông thôn. Các doanh nghiệp tư nhân và đầu tư nước ngoài tạo hầu hết số việc làm mới trong 7 năm qua.

    Nhưng những ngành này có lợi nhuận thấp. Có một hệ thống khác dành cho các doanh nghiệp nhà nước đói vốn, tập trung vào khai thác tài nguyên và phục vụ thị trường trong nước. Những công ty này chiếm phần lớn vốn vay từ ngân hàng quốc doanh và bắt đầu vay tiền nước ngoài, dùng lợi thế quan hệ để đổ tiền vào thị trường tài chính và bất động sản nhiều lợi nhuận.

    Dù số liệu về họ còn rất thiếu, tỉ lệ lợi nhuận thấp hơn nhiều so với  lĩnh vực tư nhân và đầu tư nước ngoài. Đáng lo ngại hơn là các tập đoàn bắt đầu lập ngân hàng. Các nước đang phát triển có đầy ví dụ về mâu thuẫn lợi ích trong các doanh nghiệp lập ngân hàng, dẫn đến các khoản vay thiếu thận trọng trong tập đoàn với nhau, dẫn đến mất kiểm soát tiền tệ và bất ổn taì chính.

    Lạm phát và bất ổn kinh tế vĩ mô của VN là hệ quả của những vấn đề dài hạn. Chỉ thắt chặt tiền tệ không đủ. Tăng lãi suất mà không giảm thâm hụt ngân sách có thể làm nguội nhóm công ty tư nhân nhỏ, nhưng không tác động mấy lên các tập đoàn kinh tế vay vốn từ ngân hàng quốc doanh với lãi suất ưu đãi hoặc từ nước ngoài. Chính phủ không thể giảm lạm phát cho tới khi kiểm soát được đầu tư công và đưa các tập đoàn kinh tế quốc doanh vào vòng kỷ luật.

    Những người quan sát VN lâu năm nhanh chóng chú ý rằng các nhà làm chính sách VN thường có cách lắp ráp các giải pháp có tác dụng thực tế vào với nhau trong giai đoạn khó khăn. Thường bắt đầu bằng những cách làm “xé rào”, không tuân theo luật và sau đó được đưa thành chính sách chính thức.

    Cung cách này có thể giúp VN vượt qua giai đoạn bất ổn này. Nhưng lần này chính phủ phải làm nhiều hơn. Việc “xé rào” bây giờ nằm ở việc các tập đoàn kinh tế đầu tư vào ngân hàng và xây dựng bất động sản. Thay vì cấm đoán việc này, chính phủ phải kiểm soát nó.

    Việc tự do tài chính rất rủi ro khi thiếu hành lang quản lý minh bạch và thực thi đáng tin cậy. Với các nhóm lợi ích đang nổi lên trong nền kinh tế mới của VN, việc quản lý, kiểm soát

     

  • bonjovi - Tâm lý nhà đầu tư - một số bài học vỡ lòng

    Bài học 1 : Hiệu ứng chi phí chìm(sunk cost)

    Chi phí phát sinh từ kết quả hành động của con người sẽ ảnh hưởng tới những quyết định sau này.

    Ví dụ, máy sách tay của bạn bị hỏng, đưa ra cửa hàng sửa thì phải thay màn hình tinh thể lỏng mất 500 USD. Sau đó một thời gian thì lại đến lượt CPU, ổ cứng bị hỏng. Mang ra cửa hàng sửa thì người ta nói phải mất 1000 USD. Khi đó, bạn xử lý như thế nào? Vừa mới chi 500 USD để thay màn hình, bây giờ lại chi thêm 1000 USD. Thêm ít tiền nữa là mua được cái máy mới ngon lành hơn rồi. Đương nhiên, bạn sẽ nghĩ tới phương án mua máy mới. Nhưng nếu làm như vậy 500 USD vừa mới bỏ ra thành con số 0 à? Cuối cùng, bạn quyết định bỏ thêm 1000 USD để sửa máy.

    Mấu chốt ở đây là nếu ko có 500 USD đã phải chi trước đó thì có lẽ bạn sẽ chọn phương án mua máy mới. Bởi đó là một quyết định hợp lý nhất.

    Đây cũng là một trạng thái tâm lý của nhà đầu tư cổ phiếu. Mặc dù đã thua lỗ triền miên trong việc đầu tư một cổ phiếu nhưng bạn ko muốn thay đổi vì nếu làm như vậy, bạn sẽ nghĩ rằng bao công sức, thời gian, chi phí mà mình đã bỏ ra thành công cốc.

    Nói rộng hơn, việc kinh doanh cũng như vậy. Nhiều doanh nghiệp bị sa lầy vào một dự án thua lỗ vì bị chịu ảnh hưởng của hiệu ứng chi phí chìm.

    Bài học 2 : Tại sao giá trị danh mục của bạn ngày càng giảm?

    Thông thường, nhà đầu tư có tâm lý là : dễ dàng bán đi những cổ phiếu đã đạt lợi nhuận, nhưng rất khó bán đi những cổ phiếu đang bị lỗ bởi vì làm như vậy đồng nghĩa với việc thừa nhận mình sai lầm. Kết quả là đến lúc để ý lại thì thấy trong danh mục của mình còn toàn những cổ phiếu đang bị lỗ.

    Thực ra, những cổ phiếu đang tăng giá(có lợi nhuận) là những cổ phiếu mà mình đã nhận định đúng về trend thì không cần thiết phải bán vội. Ngược lại, chính những cổ phiếu đang bị lỗ(do mình nhận định sai trend) thì mới phải xử lý gấp.

    Bài học 3 : Lý thuyết kỳ vọng (Prospect theory)

    Tại sao con người thường chấp nhận rủi ro(risk-taker) khi bị tổn thất?

    Câu hỏi 1

    1.     Chắc chắn nhận được 800 USD.

    2.     85% là nhận được 1600 USD, 15% là không nhận được gì.

    Câu hỏi 2

    3.     Chắc chắn mất 800 USD.

    4.     85% là mất 1600 USD, 15% là không mất gì.

    Trong 2 câu hỏi trên, bạn chọn trường hợp nào?

    Về mặt toán học thì chọn trường hợp 2 và 3 là chính xác. Tuy nhiên, khi điều tra thực tế thì hầu hết mọi người lại chọn 1 và 4.

    Lý thuyết kỳ vọng cho rằng : khi có lợi thì ta nên dự liệu cao hơn những khả năng có xác suất thấp, còn khi tổn thất thì ta nên dự liệu thấp hơn những khả năng có xác suất cao.

    Bản chất thì con người rất ghét bị thua, bị thất bại. Nhưng nếu không chịu chấp nhận một thất bại nhỏ thì sẽ phải gánh một thất bại lớn hơn. Bởi vì ghét thất bại là một đức tính tốt trong học tập và thể thao nhưng lại rất nguy hiểm trong đầu tư.

    Tóm lại, hiện thực hóa khoản lỗ cũng là một việc cần làm như hiện thực hóa lợi nhuận vậy.

    Giảm độ cảm nhận

    Nói một cách đơn giản, cùng một sự việc nhưng cùng với thời gian thì cách cảm nhận sẽ thay đổi.

    Nhìn vào biểu đồ dưới đây thì sẽ nhận thấy nếu lợi nhuận tương đối càng xa điểm tham chiếu thì độ chênh lệch của hàm giá trị càng nhỏ. Tức là khi lợi nhuận(tổn thất) tương đối càng xa điểm tham chiếu thì con người càng trở nên lỳ.

    Có thể thấy được sự giảm độ cảm nhận của con người trong cuộc sống hàng ngày. Ví dụ trong cuộc hẹn đầu tiên với một cô gái mà bạn thích thì bạn rất run. Nhưng nếu đi chơi nhiều lần với cô bạn đó thì cảm giác ban đầu của bạn sẽ mất dần.

    Trong đầu tư chứng khoán thì “giảm độ cảm nhận” cũng là một vấn đề hết sức quan trọng. Ví dụ bạn mua cổ phiếu A với giá 100.000VND/cổ phiếu nhưng sau đó cổ phiếu giảm xuống 90.000VND thì bạn cảm thấy rất lo lắng. Nhưng nếu bạn vẫn giữ cổ phiếu đó và sau đó giá cổ phiếu tiếp tục giảm từ 50.000VND xuống còn 40.000VND thì lúc này bạn hầu như không còn lo lắng gì nữa(mặc dù cùng mức giảm 10.000VND). Đây là một hiện tượng tâm lý hết sức đáng sợ mà nhà đầu tư cần hiểu để khắc phục. 

    Đúng là " giảm độ cảm nhận" ví dụ :

    1 người đầu tư 1000usd vào Chứng khoán anh ta gặp phải cơn lũ giá vừa qua mất :

    100 usd --- k vấn đề, ăn thua gì

    200usd--- chưa vấn đề, tôi vẫn sống tốt

    300usd --- mất thêm 100 thì có nhằm nhò gì, tôi còn sống mà

    4000usd-- khả năng thị trường lên tôi sẽ gỡ lại

    500usd-- thị trường xuống thấp rồi cơ hội lên là rất lớn, bán đi mới là thiệt hại thật

    700usd -- thị trường đang lên mua k mua được, tôi đang trên con đường gỡ hòa và sẽ có lãi thôi 

    Vâng thưa các bác nếu tính ra con số khi đầu tư 1000USD nay chỉ còn 300USD thì nhà đầu tư này sẽ phải gỡ lại 700usd tương đương với 233% so với vốn còn lại và tuơng đương với VNI phải lên thêm 233%. như vậy VNI phải lên tới 1665 điểm ( giả định số tiền còn lại 400usd ở 500 điểm) thì  nhà đầu tư này mới hòa được và đây cũng là những lỗi mà nhiều nhà đầu tư mắc phải.

    xin cảm ơn bác bonjovi đã post những bài rất giá trị. Mong bác tiếp tục sưu tầm để trang của bác trở thành kho kiến thức cho nhà đầu tư

    Bài học 4 : Tâm lý thích hợp hóa vị trí(position) của mình

    Nếu ở trạng thái ôm tiền và chờ đợi cơ hội thì nhiều nhà đầu tư tỏ ra lạnh lùng và lý trí. Tuy nhiên nếu họ mua vào cổ phiếu(thay đổi position) thì tình hình sẽ thay đổi. Họ sẽ có xu hướng không thích nghe những thông tin, phân tích không có lợi với cổ phiếu mà mình đang nắm giữ và cố gắng tìm kiếm những thông tin lọt tai. Hiện tượng tâm lý này gọi là sự thiên vị(bias). Cũng có trường hợp sự thiên vị này xảy ra một cách vô thức.

    Trong cuộc sống đời thường, khi muốn tâm sự với một ai đó về những khó khăn của mình, thì không kể có ý thức hay vô thức, nhiều khi chúng ta có xu hướng tìm những người có thể nói những điều lọt tai mình. 

    Trong đầu tư chứng khoán, việc tránh thừa nhận những quyết định sai lầm của bản thân là một biểu hiện của hiện tượng tâm lý thiên vị. Nếu cứ tiếp tục duy trì tâm lý này thì việc bạn chịu thất bại trong đầu tư là khó tránh khỏi.

    Bài học 5 : Tâm lý phiến diện

    Con người khi đánh giá một sự việc gì thì thường không đánh giá một cách tổng hợp dựa vào toàn bộ thông tin liên quan mà chỉ chú trọng vào một vài yếu tố lộ ra bên ngoài. Ví dụ khi ta gặp một người lần đầu tiên và có ấn tượng không mấy tốt về người đó thì chỉ duy nhất ấn tượng này đọng lại trong đầu. Sau đó, ấn tượng này ngày một lớn và cho dù con người đó có nhiều điểm tốt khác thì đánh giá của ta về con người đó cũng không thay đổi.

    Trong đầu tư chứng khoán, câu chuyện cũng tương tự như vậy. Nếu có một mã cổ phiếu nào đó bạn muốn mua thì thông thường bạn sẽ phân tích cổ phiếu đó, liệt kê những điểm mạnh, điểm yếu, tin tốt và tin xấu. Tuy nhiên, do ngay từ ban đầu bạn đã có ý “muốn mua cổ phiếu này” cho nên càng phân tích, càng suy nghĩ thì chỉ có những điểm mạnh, tin tốt đọng lại trong đầu còn những điểm xấu khác thì bị xóa dần đi. Kết cục sẽ đưa bạn tới những hành động thiếu chính xác.   

    Bài học 6 : Cách dùng từ của báo chí và tâm lý nhà đầu tư

    Câu chữ cùng có những điểm đáng sợ của nó. Cùng một mục đích là truyền tải một sự thật khách quan nhưng cách dùng từ ngữ khác nhau sẽ ảnh hưởng khác nhau tới tâm lý nhà đầu tư. Ví dụ, cùng một bài báo về kết quả kinh doanh của công ty A nhưng có 3 cách dùng từ trong tiêu đề. Cách viết nào cũng đúng sự thực nhưng lại gây ra những hiệu quả tâm lý khác nhau

    Cách viết 1

    Công ty A : kết quả kinh doanh khả quan, lợi nhuận kỳ này tăng 20%, lợi nhuận cao nhất từ trước tới nay.

    Cách viết 2

    Công ty A : lợi nhuận kỳ này cao nhất từ trước tới nay nhưng tỷ lệ tăng trưởng giảm.

    Cách viết 3

    Công ty A : tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận giảm, còn nhiều yếu tố chưa rõ ràng trong quý tới

    Với cách viết 1, những từ ngữ ấn tượng như “khả quan”, “tăng 20”, “cao nhất” tạo tâm lý hưng phấn cho nhiều nhà đầu tư muốn mua cổ phiếu này.

    Với cách viết 2, mặc dù đã sử dụng từ “cao nhất” nhưng sau đó lại là từ “giảm”. Nhà đầu tư sẽ có tâm lý tạm thời ko mua bán hoặc xem xét bán bớt đi một ít.

    Với cách viết 3, những từ ngữ thiếu lạc quan như “giảm”, “chưa rõ ràng” sẽ tác động xấu tới tâm lý nhà đầu tư. Mọi người sẽ nghĩ đến chuyện bán đi chứ không mua vào.

    Lại một ví dụ khác với 3 cách dùng từ khác nhau về một vấn đề

    Cách viết 1

    Công ty B : lỗ, 3 kỳ liên tiếp lợi nhuận âm.

    Đọc tiêu đề này chắc không có nhà đầu tư nào nghĩ đến chuyện mua cổ phiếu B

    Cách viết 2

    Công ty B : tiếp tục lỗ nhưng tỷ lệ có chiều hướng giảm

    Đọc tiêu đề này thì ấn tượng vẫn là xấu nhưng sẽ có người đưa cổ phiếu này vào tầm ngắm để nghiên cứu.

    Cách viết 3

    Công ty B : tỷ lệ lỗ giảm xuống, kỳ sau có khả năng có lãi

    Tiêu đề này hoàn toàn không gây ra ấn tượng xấu, ngược lại sẽ có nhiều người xem xét mua cổ phiếu B.

    Bài học : nên xem xét kỹ nội dung hơn là chỉ nhìn tiêu đề.

    Bài học 7 : Lý thuyết vị ân nhân

    1.     Cổ phiếu có PE bằng 10

    2.    Cổ phiếu có PE bằng 50

    Trong 2 cổ phiếu trên theo bạn cổ phiếu nào có hiệu quả đầu tư tốt hơn? Nếu câu trả lời của bạn là cổ phiếu 1 thì bạn đã nhầm. Thông thường, đầu tư cổ phiếu là việc mua vào một cổ phiếu mà mình cho rằng giá đã rẻ rồi đợi giá tăng để bán ra. Tuy nhiên, nếu bạn mua một cổ phiếu mà giá đã cao mà lại có người chấp nhận mua vào cổ phiếu đó với mức giá cao hơn thì bạn đã thành công rồi. Cho dù bạn mua cổ phiếu có PE bằng 10 mà không có người nào chấp nhận mua lại cho bạn với giá cao hơn thì về lý thuyết là đúng nhưng thực tế thì bạn đã thất bại.

    Đầu tư thì không ai mong muốn thua lỗ mà bất kỳ ai cũng đều kỳ vọng lợi nhuận. Vì vậy một cổ phiếu giá cao mà vẫn tăng giá(mang lại lợi nhuận) lại là một cổ phiếu tốt hơn so với một cổ phiếu rẻ mà không tăng giá. Tóm lại, nếu có một vị ân nhân nào đó chấp nhận mua lại cổ phiếu của bạn với giá cao hơn là OK. Việc đầu tư dựa trên cơ sở kỳ vọng có người mua lại cổ phiếu của mình với giá cao hơn gọi là “lý thuyết vị ân nhân”.

    Tuy nhiên, lý thuyết này đã gây ra không ít bong bóng trên thị trường. Bởi vì ai cũng nghĩ rằng mình không phải là vị ân nhân cuối cùng. Trong lịch sử đã chứng kiến những vụ bong bóng như bong bóng hoa tulip ở Hà lan, bong bóng bất động sản ở Nhật, bong bóng IT ở Mỹ,...và tất cả những bong bóng này đều là kết quả của “lý thuyết vị ân nhân”.   
  • lang_ba_vi_bo - Chứng khoán đơn giản như cơm bình dân

    Lời phi lộ:
    Mạn phép các bác, em post lại một loạt các bài học mà khi xuống khỏi tòa cao ốc sư phụ em có LÓI với iem là mỗi ngày nên mang ra đọc 1 lần.
    Do không có nhiều thời gian, em sẽ post dần, mỗi ngày 1 bài, tiêu chí là đơn giản, gọn nhẹ, dành cho các bác cùng là NB như iem !

    _________________________________________________
    Phần 1: Quy tắc vàng 3 x 7 = 21

    Một đội bóng không để lọt lưới luôn luôn làm một đội chiến thắng, triết lý ngược đơn giản vậy nhưng có quá nhiều người lại coi thường và làm ngược lại, tại sao Asenal thành tích lại ngèo nàn như vậy ở cả hai đấu trường Ngoại hạng và Champion cup. Hãy xem các đội bóng của người Ý, họ mới nhiều thành tích làm sao ?

    Khi bạn đầu tư chứng khoán, trước khi nghĩ đến chuyện cướp tiền mang về thì hãy nghĩ đến việc giữ tiền của bạn thật chặt đã.

    Thông thường một nhà đầu tư thường quyết định đúng đắn với tỷ lệ bao nhiều thì mới có lãi ?

    Thống kê chỉ ra rằng, chỉ cần đầu tư đúng trong 3-4 lần trong 10 lần đầu tư là bạn đã có thể trở thành một tay cự phách trên thị trường.

    Hãy tuyệt đối tuân thủ theo quy tắc sau để đảm bảo bạn luôn là một trong những kẻ cuối cùng còn lại trên bãi chiến trường:
    - Thống kê chỉ ra rằng có đến 75% các cổ phiếu thường tăng giá lên khỏi mức giã cũ của nó từ 20 %-> 30%, sau đó các cổ phiếu lại quay đầu trở lại, thậm chí còn đi xuống sâu hơn mức giá ban đầu.
    - Do vậy hãy bán ngay cổ phiếu của bạn khi mức lãi >=21%, đừng quá tham lam, rồi bạn lại nhìn lợi nhuận của mình bị cuốn phăng cùng với cơn lũ của thị trường.
    - Khi cp của bạn bị xuống giá tới mức -7%, không có ngoại lệ trong trường hợp này là: bạn phải bán ngay lập tức (tôi nhắc lại là KHÔNG CÓ NGOẠI LỆ và phải NGAY LẬP TỨC) cổ phiếu đi.
    - Với quy tắc đơn giản này: trong 4 lần đầu tư, kể cả bạn đầu tư tệ hại đến mức 3 lần thua -7% và chỉ có 1 lần duy nhất thắng >=21%, bạn vẫn không thua lỗ.

    Ví dụ: bạn có 200 triệu, bạn chia làm 4 phần và đầu tư vào 4 loại cổ phiếu khác nhau, với số tiền bằng nhau là 50 triệu/1 cp
    - Cổ phiếu A: Bạn lỗ -7%
    - Cổ phiếu B: Bạn lỗ -8%
    - Cổ phiếu C: Bạn lỗ -6%
    - Cổ phiếu D: Bạn lời 21%
    _______________________
    Số tiền còn lại của bạn vẫn sẽ là 200 triệu
    (tất nhiên phải trừ đi cả chi phí môi giới cho công ty chứng khoán)

    Phần 2: Đầu cơ hay Đầu tư
    - Hãy nhớ 100% các cổ phiều đều có thuộc tính ĐẦU CƠ.
    - Bạn thường được nghe những câu nói kiểu: “tôi là nhà đầu tư dài hạn, tôi chỉ mua và nắm giữ dài hạn”, “giá xuống thì kệ đi, tôi đầu tư dài hạn cơ mà, kiểu gì cuối năm giá chả lên” …, hãy xem một ví dụ về giá cổ phiếu TDH cách đây 8 tháng và giá hiện nay của nó ? hoặc giá của VTC cách đây 15 tháng và giá hiện nay (chưa kể chuyện bạn bị lỗ mà vốn liếng của bạn còn bị chôn vùi tại đó và bỏ qua vô số cơ hội ngon ăn trên thị trường). Hoặc thậm chí bạn vẫn nghe thấy: “đầu tư là phải dài hạn, phải 5-10 năm mới thu lợi nhuận về”, hãy xem các doanh nghiệp cổ phần đình đám của VN cách đây 5-10 năm: Đông Nam Mobile, Thiên Nam Computer, 3C Computer …

    - Bạn sẽ rất ngạc nhiên khi nghe định nghĩa sau về nhà đầu tư và đầu cơ nếu lấy đúng từ gốc la-tinh của 2 từ này:
    + Nhà đầu tư là một con bạc khát nước nhất, họ đặt hết tiền vào một cửa và theo đuổi – hy vọng cửa đó đến cùng !
    + Nhà đầu cơ là người luôn theo sát và quan sát diễn biến của thị trường, họ luôn quyết định có lợi nhất cho bản thân, họ mặc kệ thị trường nghĩ gì.

    Choáng váng ! khi tôi đọc đến dòng định nghĩa này, vì mọi người trên thị trường luôn luôn tự nhận mình là “nhà đầu tư” theo ý nghĩa tốt đẹp và luôn luôn có ý muốn chối bỏ mình là “nhà đầu cơ”, có lẽ nền kinh tế XHCN 50 năm đã làm cho người ta kinh sợ từ “đầu cơ” này.

    Hãy quên ý nghĩa của từ đầu tư, khái niệm “dài hạn” không có đối với những người trẻ tuổi và có vô số nhu cầu cần đáp ứng trong ngắn hạn như tôi và các bạn, hãy để cho các tổ chức khủng lồ ôm cái danh hiệu đó và họ luôn chỉ đạt được các mức lợi nhuận tệ hại dưới 20%/năm (PRUB1 là một ví dụ).

    Hãy luôn bán cổ phiếu ra khi nó chạm ngưỡng thua lỗ -7%, đừng trở thành “nhà đầu tư chân chính bất đắc dĩ” (kẹp *** như các bạn vẫn thường nói). Các cơ hội khác còn nhiều ở phía trước hơn bạn tưởng nhiều, mới chỉ có hơn 200 DN niêm yết/ 350,000 DN tại VN

    Hãy luôn hiện thực hóa lợi nhuận khi đạt kỳ vọng >=21%, nếu một năm bạn quyết định đúng 2 lần đầu tư liên tiếp bạn đã có thể đạt mức lợi nhuận cỡ 50% /vốn rồi.

    Phần 3: “Đa phần mọi người thua lỗ vì không biết cách bán cổ phiếu đúng thời điểm”

    - Khi sư phụ tôi viết dòng này lên bảng, cả nhóm chúng tôi cùng ồ lên, vô lý quá ta, mua và chọn cổ phiếu tốt là quan trọng nhất chứ nhỉ, bán ra thì ai chẳng bán được, cứ lãi là bán thoai ?

    - Nhưng khi phân tích và soi lại chính những vụ đầu tư của cá nhân tôi- thì tôi thấy rằng, sự đầu tư yếu kém của tôi hoàn toàn là do tôi không biết bán cổ phiếu ra đúng thời điểm

    Tháng 2/2007 tôi đầu cơ vào các cổ phiếu rẻ tiền và đang lên cơn sốt là PTS và ICF, vào thời điểm tôi mua giá của PTS là 49, giá ICF là 34, (vụ này có pác chungkhoan_drem và pác Tham_lam cùng tham gia), sau đó 10 ngày giá PTS chạm ngưỡng 71, giá ICF lên đến 59. Do không biết cách bán cổ phiếu này khi nó đạt đỉnh, tôi đành ngồi nhìn lợi nhuận của mình bị cơn lũ “tháng tư đen tối” cuốn phăng đi, may mắn mà tôi vẫn bán CUT LOSS kịp thời và thu được vốn của mình về.

    Tại sao tôi lại đưa bài học này lên trước, phần vì từ những kinh nghiệm đau đớn của tôi, phần vì thị trường hiện nay (tuần 8/6/2007->) có những hiện tượng đúng với những gì trong quá khứ tôi đã đau đớn trải qua, thị trường đang trong giai đoạn mà những người mới tham gia (NB) không thể mua tiếp cổ phiếu vào trong ngắn hạn.

    Khi quyết định bán cổ phiếu, những câu nói sai lầm sau tôi luôn luôn được gặp và bị gặp, nó lặp lại nhiều lần, và quả thực sai lầm này lại luôn lặp lại với chính tôi (hàng ngàn năm nay bản tính “bày đàn” và “tham lam” của loài người hầu như chưa hề suy giảm đáng kể bao nhiêu):
    - “Bán làm gì nhỉ, bán ra là lỗ thật, để nguyên kiểu gì sau này nó chẳng lên lại”.
    - “*** à, nó đang lên ầm ầm như thế, bán rồi lại ngồi mà tiếc à”.
    - “Để kệ nó đi, nó xuống rồi nó lại lên, bán đi-bán lại suốt ngày chỉ tổ phí tiền môi giới”.
    - “Không có khả năng nhìn tài khỏan của mình thua lỗ đến 40% thì không thể là một nhà đầu tư” !
    - “Phải có cái đầu lạnh, lỗ cũng vẫn phải bình tĩnh”.

    Và thật lạ là tôi thấy ai cũng có lý cả !!!!

    Nhưng bình tâm suy nghĩ lại, tôi tự đặt cho mình các câu hỏi và tôi biết mình phải chọn đáp án nào đúng cho tôi, cuộc sống vốn vẫn vậy, có những điều đúng với người này nhưng không đúng với người kia.

    Vấn đề là “Tôi là nhà đầu cơ vốn nhỏ-chỉ có vài trăm triệu, mục tiêu của tôi là cố gắng đạt lợi nhuận >40% trong 1 năm (he he, tất nhiên lợi nhuận nhiều hơn càng tốt), nhưng tôi không thể chịu đựng được mức lỗ 40%/năm, và tôi cầu mong không bao giờ tôi phải rơi vào tình huống “đầu lạnh”. Tôi cũng không có khả năng để vốn của tôi chết gí cỡ 1 năm tại một mã cổ phiếu nào đó không tăng giá ! Và tôi cũng mạo muội võ đoán có đến 80% các bác trên ttvnol và vietstock là suy nghĩ giống tôi”.

    Các quy tắc bán cổ phiếu ra đơn giản (nhưng thực ra rất khó quyết định và nhận biết) được thầy tôi lặp đi lặp lại nhiều lần trong suốt thời gian tôi thụ giáo:
    -Với các cổ phiếu tăng trưởng bình thường (không có hiện tượng cường tráng đặc biệt: kiểu như TCT, BMC), hãy bán ngay khi nó đạt lợi nhuận >=21%.
    - Bán CUT LOSS (Không có bất cứ ngoại lệ nào) khi cổ phiếu của bạn thua lỗ đến -7%
    - Tuyệt đối không đi ngược lại xu hướng thị trường, hãy làm sao nhận biết được:
    + Thị trường đang ở trên đỉnh và hãy bán ra để hiện thực hóa lợi nhuận ?
    + Nếu không bán được ở đỉnh, hãy bán ra ở phiên phục hồi kế tiếp gần nhất đỉnh ?
    Khó quá, khó quá !!!!
    Làm sao mà tôi biết đang ở đỉnh đây, đỉnh thị trường ????
    Đỉnh của cổ phiểu ???

    Nhưng dù cổ phiếu của bạn có tốt đến cỡ nào, khi thị trường suy thoái chung, nó cũng sẽ đi xuống, hãy xem quá trình suy thoái của “Tháng 4 đen tối” vừa rồi, 100% các cổ phiếu đều suy sụp !

    Nếu bạn là một NB, vốn nhỏ, khả năng cơ động T+1 không có, hãy luôn bán cổ phiếu khi thị trường đang ở trên đỉnh, khi thị trường đã qua đỉnh, hãy ngừng giao dịch

    Các dấu hiệu sau, giúp ta phát hiện đỉnh thị trường hoặc thị trường vừa qua đỉnh- đang lình xình đi xuống:

    - Khi các cổ phiếu hàng đầu dẫn dắt thị trường (STB, FPT, REE, SJS, …) đang tăng rất mạnh, sau đó tăng nhẹ hoặc đứng yên + khối lượng giao dịch lớn ở những phiên (tăng nhẹ - giảm nhẹ - đứng yên), đó là dấu hiệu thị trường đang ở trên đỉnh.
    - Khi các phiên phân phối xuất hiện gần nhau, cứ 2-3 phiên giao dịch lại xuất hiện một phiên phân phối, phiên phân phối là những phiên mà: khối lượng giao dịch tăng lớn + chỉ số VN Index (tăng nhẹ - đứng yên - giảm nhẹ - hoặc phiên 1 tăng, đến phiên 2,3 giảm hết mất chỗ vừa tăng của phiên 1), đó là dấu hiệu thị trường vừa qua đỉnh và đang lình xình, sẽ đi xuống.
    - Khi đột nhiên chỉ số VN Index tăng đột biến trong 1 ngày (bùng nổ bứt phá chạm đích), vào suốt quá trình tăng 5 -> 20 điểm/ phiên, đột nhiên một hôm nào đó VN Index tăng đến 30 điểm hoặc thậm chí 40 điểm. Hãy cảnh giác, sau niềm vui vỡ òa này là dấu hiệu báo thị trượng đã hết hơi bứt phá lần cuối đểm chạm đích.
    - Khi các mã cổ phiếu hàng đầu ngày càng lu mờ, thị trường đột nhiên chói sáng bởi các nhân tài PNs xa lạ, đây là dấu hiện rõ rệt nhất về việc thị trường sắp cắm đầu đi xuống, đến đàn tuấn mã còn không kéo nổi cỗ xe VN- Index thì lũ *** già góc bếp liệu lết nổi bao lâu ?
    - Khi đột nhiên lượng bài viết ca ngợi thị trường và các hô hào thị trường đang phát triển mạnh mẽ ngày càng hưng phấn và tần xuất xuất hiện cao độ trên báo chí-truyền hình-diễn đàn, hãy cẩn thận, bạn tính chuyện về ôm vợ là vừa.

    Tuy nhiên để nhận biết được chính xác xu hướng thị trường là điều cực kỳ khó, khi có các hiện tượng xuất hiện, bạn phải bám sát thị trường và theo dõi 4-7 phiên kế tiếp để xác nhận chính xác nhận định của bạn.

    Hãy yên tâm về chuyện thời gian, bạn vẫn có thể rút khỏi thị trường một cách an toàn, trong điều kiện bình thường (không có biến cố đột ngột), thị trường có đủ thời gian cho bạn rút lui, vì khi thị trường qua đỉnh nó vẫn cố gắng tiếp tục phục hồi mạnh mẽ hoặc lình xình đủ lâu.

    Đừng để sự tham lam chi phối bạn, đừng có nghĩ: "mình là người thông minh, mình cố lướt thằng này vẫn có lãi và vẫn kịp rút ra" !

    Hãy nhớ: đội bóng để lọt lưới ít nhất mới là đội chiến thắng !

    Phần 4: Chọn cổ phiếu theo phương pháp ĐẦU CƠ GIÁ LÊN CAN SLIM
    Phương pháp này giúp bạn chọn cổ phiếu để
    đầu cơ khi thị trường đang lên giá, dùng để đầu cơ trong ngắn hạn tại thị trường VN hiện nay(1-3 tháng, 3-6 tháng), phương pháp này chỉ hiệu quả khi thị trường đang trong xu hướng UPTREND


    William J. ONeil là một mẫu nhà đầu tư Chứng khoán thành công tại Mỹ. Khởi nghiệp bằng nghề kế toán viên, ông nhanh chóng bị cuốn vào cơn sốt cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, để rồi với những công thức đầu tư của riêng mình, ông đã trở thành một nhà “phù thuỷ” tại Wall Street khi thu về hàng triệu USD lợi nhuận mỗi năm từ cổ phiếu. Hiện William là chủ tịch kiêm giám đốc điều hành hãng nghiên cứu đầu tư William J. ONeil & Company do chính ông thành lập.

    300 USD là khoản tiền đầu tiên William “rót” vào thị trường Chứng khoán với cổ phiếu của Procter & Gamble khi còn phục vụ trong Không lực hoàng gia. Có trong tay tấm bằng cử nhân tài chính của Đại học Southern Methodist, William khởi động sự nghiệp đầu tư của mình trên cương vị một nhà môi giới Chứng khoán tại Los Angeles. Biết kinh nghiệm còn ít ỏi, William đã dành rất nhiều thời gian để nghiên cứu về thành công của các “bậc tiền bối” trên thị trường chứng khoán. Và rồi, nỗ lực của ông đã được đền đáp. William nghiên cứu và đúc kết được 7 yếu tố cần thiết để nhận dạng những cổ phiếu hiện còn ít được giới đầu tư chú ý nhưng lại chính là những tài sản sinh lời lớn trong tương lai. Bảy yếu tố đó được biết đến với cái tên CAN SLIM.


    Nhận định của William hoàn toàn phù hợp với một thực tế hiện nay là rất nhiều nhà đầu tư không biết các công ty được niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán đang hoạt động như thế nào và đầu tư vào cổ phiếu của các công ty nào sẽ có lãi? Dưới tác động của “hiệu ứng đám đông”, họ bắt chước nhau, cùng đổ xô đi mua những cổ phiếu đang tăng giá. Nhiều người mua cổ phiếu rồi mà vẫn chưa có trong tay những tài liệu và phương pháp cần thiết để tìm hiểu về mức độ sinh lời của cổ phiếu đó.

    Là cha đẻ của phương pháp phân tích và lựa chọn cổ phiếu hiệu quả CAN SLIM, William J. ONeil đã mang lại tốc độ tăng trưởng bình quân 40%/năm cho các tài khoản đầu tư cá nhân được ông tư vấn. Nhiều chuyên gia đánh giá đây là một trong những phương pháp hiệu quả nhất trong vô vàn các công cụ phân tích Chứng khoán hiện nay. “CAN SLIM thể hiện sự kết hợp hài hoà giữa phương pháp phân tích cơ bản với phương pháp phân tích kỹ thuật đầu tư chứng khoán”- John Neff, một cây đại thụ của phố Wall, cho biết.

    CAN SLIM là tập hợp bảy chữ cái đầu tiên của bảy yếu tố mà theo William là rất hiệu quả khi đánh giá cổ phiếu:

    C: Current Quaterly Earnings Per Share (lãi ròng trên mỗi cổ phiếu của quý gần nhất)

    William nhận định rằng, hầu hết các cổ phiếu tốt đều có sự gia tăng lợi nhuận so với cùng quý năm trước đó và tỷ lệ tăng càng cao thì chứng tỏ cổ phiếu càng có nhiều triển vọng. Theo ông, các nhà đầu tư trước khi bỏ tiền ra mua cổ phiếu cần xem xét tới sự gia tăng mạnh mẽ lợi nhuận của cổ phiếu đó, cụ thể là mức tăng trưởng của lãi ròng trên mỗi cổ phiếu trong 3 tháng gần nhất.

    Nhưng phải tìm hiểu sự gia tăng lợi nhuận này ở đâu và như thế nào? William cho rằng nhà đầu tư có thể nghiên cứu các báo cáo tài chính có kiểm toán của công ty niêm yết, cùng với việc thăm dò các các kênh thông tin khác như báo chí, người quen... Điều quan trọng là các nhà đầu tư cần coi trọng độ tin cậy và tính đồng nhất của thông tin, chẳng hạn có thể có điều gì đó không đúng, nếu doanh thu của công ty tăng 20%, trong khi lãi ròng chỉ tăng 5%.
    A: Annual Earnings Increases (sự gia tăng lãi ròng hàng năm)

    Theo ONeil, cổ phiếu tốt là cổ phiếu có mức gia tăng lợi nhuận đều đặn trong vòng 5 năm trước đó. Các nhà đầu tư cần đặc biệt lưu ý tới các cổ phiếu có mức gia tăng lợi nhuận hàng năm ổn định và đạt trên 25%, tuy nhiên nên chú ý tới chu kỳ kinh doanh của từng ngành, từng công ty. Theo ONeil, tiêu chí này có thể giúp bạn loại bỏ khoảng 80% các cổ phiếu tồi.

    Để có được sự chính xác về mức gia tăng lợi nhuận, nhà đầu tư cần nghiên cứu tất cả các thông tin liên quan đến công ty mà họ muốn đầu tư. Các thông tin này bao gồm lịch sử và đặc điểm của công ty, tình hình tài chính, các chi tiết của đợt phát hành cổ phiếu và tổ chức bảo lãnh phát hành cổ phiếu. Nhà đầu tư có thể tìm các thông tin này trong Bản thông cáo phát hành, trong Báo cáo tài chính của công ty hoặc từ các công ty dịch vụ tư vấn đầu tư. Các quyết định đầu tư chỉ nên đưa ra khi bạn đã có đủ cơ sở thông tin về cổ phiếu cũng như về mức tăng trưởng lãi ròng hàng năm.

    N: New Products, New Management, New Highs (sản phẩm mới, sự quản lý mới, mức giá trần mới)

    Những nghiên cứu của William chỉ ra rằng giá cổ phiếu tăng sẽ bắt nguồn từ một số nhân tố nội tại nào đó. Những nhân tố này thường là sản phẩm mới của công ty, ban giám đốc mới, phương thức quản lý mới hay mức giá trần mới của cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.

    Do vậy, sẽ không bao giờ thừa nếu các nhà đầu tư quan tâm đến những nhân tố nội tại này. Nếu xét thấy những nhân tố này có sự ổn định, không có biểu hiện đột biến theo chiều hướng xấu, thì đó sẽ là một cổ phiếu có nhiều triển vọng tăng trưởng trên thị trường chứng khoán.

    S: Supply and Demand (nguồn cung và cầu)

    Trong kinh doanh, quy luật cung cầu luôn có ảnh hưởng rất lớn đến giá thành sản phẩm, và đầu tư Chứng khoán cũng không phải là một ngoại lệ. Giá cổ phiếu cũng chịu tác động từ quy luật cung cầu. William cho rằng cổ phiếu của các công ty đại chúng, có quy mô lớn, sản phẩm chất lượng không phải lúc nào cũng đáng để mua, bởi lượng cầu của những cổ phiếu này khá lớn, trong khi nguồn cung lại ít nên giá thường bị đẩy lên cao giả tạo, không phản ánh đúng giá trị thực tế của cổ phiếu cũng như rất khó sinh lợi nhuận lớn.

    Chính những cổ phiếu có số lượng lưu hành thấp trên thị trường mới có nhiều triển vọng và có khả năng tăng giá hơn so với các cổ phiếu có số lượng lưu hành lớn. Từ đó suy ra, cổ phiếu được các nhà quản trị hàng đầu nắm giữ với tỷ lệ lớn thường là những cổ phiếu có độ an toàn cao. William đặc biệt lưu ý tới các cổ phiếu được công ty mua lại và cổ phiếu của các công ty có tỷ lệ nợ dài hạn trên vốn tự có vừa phải, bởi theo ông thì tỷ lệ này càng cao bao nhiêu công ty sẽ càng phải đương đầu với áp lực trả lãi trong tương lai nhiều bấy nhiêu. Các nhà đầu tư nên so sánh tỷ số này ở công ty mình dự định đầu tư với tỷ số nợ bình quân ở các công ty trong cùng ngành, đồng thời phân tích thêm khả năng thanh toán để có đánh giá xác thực hơn về mức độ nợ của công ty.

    L: Leader and Laggard (cổ phiếu đầu bảng và cổ phiếu tụt hậu)

    Theo ONeil, nhà đầu tư trên thị trường chỉ nên mua 2 hay 3 cổ phiếu tốt nhất trong nhóm những cổ phiếu đầu bảng hiện tại, còn lại nên dành tiền cho những cổ phiếu có khả năng sinh lời trong tương lai. Ðặc biệt, các nhà đầu tư cần tránh mua những cổ phiếu có mức tăng trưởng cao nhưng không bền vững, chẳng hạn như cổ phiếu lên giá theo trào lưu, theo sự kiện nổi bật… bởi vì các cổ phiếu này được đánh giá là những cổ phiếu tụt hậu, không sớm thì muộn cũng mất giá.

    I: Institutional Sponsorship (sự ủng hộ của các định chế tài chính và đầu tư)